Bức tranh toàn cảnh về ngành công nghiệp dầu nhớt.
Phần 1: Giá dầu gốc Nhóm III tăng 235% kể từ khi xung đột vùng Vịnh bắt đầu.
Các sản phẩm dầu nhớt sản xuất từ dầu gốc Nhóm III được xem như là dầu tổng hợp. Một số hãng sử dụng cụm từ “Fully Synthetic” cũng có hãng sử dụng “Synthetic Technology”. Không có chuẩn trong cách gọi tên và dựa trên sự uy tín của mỗi hãng với niền tin vào chất lượng đối với khách hàng.
Dầu gốc Nhóm III có giá 11,40 USD mỗi gallon vào tháng 7, so với 3,40 USD vào tháng 1 trước khi xung đột bắt đầu — tăng 235%. Đây là mức giá cao nhất trong số các loại dầu gốc theo phân loại của Viện Dầu khí Hoa Kỳ (API)…
Câu trả lời của ngành dầu nhớt cho vấn đề này, không chỉ tập trung vào việc định giá mà là tìm ra nguyên nhân để cho khách hàng biết sự thật.
Hơn 80 cơ sở năng lượng lớn đã bị ảnh hưởng hoặc hư hại nghiêm trọng kể từ khi xung đột bắt đầu, trong đó hơn 40 cơ sở chỉ diễn ra trong vài tuần đầu tiên. Ngoài thiệt hại vật lý, một số nhà máy ở vùng Vịnh đã tuyên bố bất khả kháng và đóng cửa vì lý do an toàn.
Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) dự kiến việc khôi phục hoàn toàn sản xuất năng lượng trong khu vực sẽ mất ít nhất hai năm và có thể lâu hơn sau khi chiến tranh lắng xuống. Vấn đề không phải ràng buộc bởi tiền mà bởi sự sẵn có của thiết bị, nguồn lực kỹ thuật và các thỏa thuận của hợp đồng. Ước tính chi phí sửa chữa các hoạt động lọc dầu, sản xuất, lưu trữ và phân phối ở vùng Vịnh từ 30 tỷ USD đến 50 tỷ USD, theo tính toán có phần thận trọng của các chuyên gia.
Các tài sản không thuộc về dầu khí bị phá hủy như: các nhà máy điện, nhà máy khử mặn và các công trình tương tự — sẽ làm tăng thêm 5 tỷ USD lên 8 tỷ USD.
Hai cơ sở của Qatar có liên quan trực tiếp sản xuất dầu gốc. Nhà máy Pearl “Gas-to-liquids (GTL)”- của Shell, cơ sở với hai nhà máy với công suất khoảng 2 triệu tấn sản xuất dầu gốc Nhóm III, đã mất khoảng một nửa công suất. Tại Ras Laffan, Qatar, địa điểm với hai nhà máy lọc dầu có tuổi đời 20 năm, đã bị phá hủy, và ước tính cần khoảng 5 năm để khôi phục.
Sản phẩm, chứ không phải dầu thô, là câu chuyện của châu Á.
Dầu thô Brent đạt 92,50 USD mỗi thùng vào dầu tháng 9, tăng 33,79% trung bình12 tháng, sau khi vượt mốc 110 USD trong quý 2. Lưu lượng tàu dầu qua eo biển Hormuz, theo biểu đồ Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) được cung cấp cho Starboard Maritime Intelligence và Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á, đã giảm từ khoảng 150 tàu mỗi ngày vào tháng Hai xuống còn khoảng 20 tàu vào đầu tháng Ba, chỉ phục hồi ngắn khi bắt đầu mở cửa tạm thời vào tháng Tư.
Dầu thô là phần nhỏ trong câu chuyện đối với châu Á. Chỉ số chênh lệch của Trading Economics ở mức 62,39, tăng 146,02% so với cùng kỳ năm trước. Giá sản phẩm dầu khí trung bình hiện khoảng 170 USD mỗi thùng, và dầu diesel — nhiên liệu công nghiệp chính — đã đạt mức cao kỷ lục khoảng một tuần trước phiên giao dịch, cao hơn dầu thô khoảng 100 USD mỗi thùng. Đó không phải là những gì các bản tin chung đưa tin và là điều đang gây tổn hại nghiêm trọng cho các nền kinh tế châu Á.
Các yếu tố khác làm trầm trọng thêm: năng lực lọc dầu ở các nơi khác trên thế giới, xung đột Nga-Ukraine và các lệnh trừng phạt đối với hoạt động của Nga. Quan điểm về một sự lan rộng của các điểm nghẽn sẽ không bao giờ biến mất.
Giá giao dịch dầu gốc, dựa trên số liệu của Petroleum Trends International so sánh tháng 1/2026 với tháng 7/2026, đã tăng trên tất cả các nhóm. Nhóm I (SN 500) tăng từ 3,30 USD lên 7,20 USD mỗi gallon, tăng 118%. Nhóm II (N100) tăng từ 2,85 USD lên 6,45 USD, tăng 126%. Nhóm I|+ ước tính đã tăng từ 3,40 USD lên 7,80 USD, tăng 129%. Nhóm I|I (4 centistoke) tăng từ 3,40 USD lên 11,40 USD, tăng 235%, và Nhóm Ill+ ước tính từ 5,00 USD lên 14,00 USD, tăng 180%.
Việc đóng cửa eo biển cũng gây tắc nghẽn cho tất cả các nguyên liệu đầu vào khác. Trong khi giá phân bón tăng với tỷ lệ phần trăm tương đương với mức tăng mạnh dầu thô, góp phần vào chi phí thực phẩm và khả năng chi trả trên toàn châu Á. Đối với ngành dầu nhớt, sự siết chặt diễn ra theo cả hai chiều: thiếu hụt và giá cao ở dầu gốc và phụ gia ở một bên, song song với khả năng chấp nhận thanh toán thấp ở phía còn lại.
Yếu tố vận chuyển: 10 ngày thành 10 tuần
Chuỗi giá trị được thúc đẩy bởi năm yếu tố — cú sốc giá, độ tin cậy, tính hợp tác, khả năng cung cấp và khả năng đưa các sản phẩm đó đến khách hàng. Khhi các nhà cung cấp bắt đầu tuyên bố trường hợp bất khả kháng. Phí chiến tranh và phụ phí tăng lên và việc vận chuyển kéo dài gấp năm lần tình hình đã rõ ràng. Tất cả mọi thứ đều khan hiếm.
Việc sản xuất không phải là giới hạn. Dầu gốc được vận chuyển từ Ả Rập Xê Út đến Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) trước đây mất khoảng 10 ngày bằng tàu biển. Hiện nay, nó đi vòng quanh Mũi Hảo Vọng và mất 10 tuần. Ngoài việc có sẵn, điều đó đồng nghĩa với phụ phí, độ trễ thời gian và vốn bị ràng buộc trong quá trình vận chuyển, nên chi phí cho toàn bộ hoạt động kinh doanh đã trở nên lớn hơn nhiều.
Các nhà máy lọc dầu ban đầu đã ngừng cung cấp dầu gốc, trong khi đánh giá tình hình. Điều làm rõ sự gián đoạn sẽ kéo dài là các nhà máy lọc dầu Nhóm I không thể dễ dàng chuyển đổi nguyên liệu — một vấn đề đối với các nhà sản xuất ở Thái Lan, Indonesia và Nhật Bản, vốn dựa vào dầu thô Trung Đông.
Có thể các nhà máy lọc dầu linh hoạt thay đổi nguồn nguyên liệu đầu vào, nhưng điều đó làm thay đổi thành phần dầu gốc, nên cần phải kiểm tra lại sự tương thích. Công việc đó giờ thuộc về các nhà máy lọc dầu, thương nhân, nhà máy pha chế dầu nhớt…ở cả Hoa Kỳ lẫn châu Á. Còn ở Việt nam, trong thời kỳ “hỗn loạn”, có dầu gốc thì đã là may mắn!
Tại Singapore, các sản phẩm dầu nhớt cho xe máy của MaxPro1 MX7000, và MX 8000 được sản xuất trên công thức 100% dầu gốc Nhóm III (tổng hợp)
…còn tiếp
Theo ESKA Singapore, tổng hợp.
